Đảm bảo an ninh năng lượng và phát triển bền vững được xác định là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của nước ta, trong đó, các vấn đề về giá cả và sự đa dạng về nguồn cung cấp là những yếu tố có tính quyết định.
1. Cam kết quốc tế
Tại Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc lần thứ 26 (COP 26), lãnh đạo 197 quốc gia tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu đã thông qua Hiệp ước khí hậu Glasgow (Glasgow Climate Pact) ngày 13/11/2021.
Theo đó, khẳng định lại mục tiêu khống chế gia tăng nhiệt độ trung bình trên toàn cầu ở ngưỡng dưới 2 độ C so với mức thời kỳ tiền công nghiệp và quyết tâm theo đuổi các nỗ lực để đạt mục tiêu tăng ở mức 1,5 độ C nhằm tránh những tác động xấu nhất của biến đổi khí hậu.

2. An ninh năng lượng
Cố nhiên, vấn đề an ninh năng lượng luôn luôn được ưu tiên hàng đầu. Căn cứ cam kết đưa phát thải ròng về không vào năm 2050, Dự thảo Quy hoạch điện VIII đã được hoàn chỉnh với kết quả tính toán nhu cầu tổng công suất các nhà máy điện tính đến năm 2030 (Phương án cơ sở – Phiên bản tháng 4 năm 2022) về năng lượng tái tạo, Việt Nam cần:
Khoảng 145.930 MW (không tính điện mặt trời mái nhà và các nguồn đồng phát). Trong đó, nhiệt điện than có công suất 37.467 MW (chiểm tỷ lệ 25,7%) vào năm 2030 và không phát triển thêm cho tới năm 2045 (đến thời điểm này tỷ lệ giảm xuống chỉ còn 9,6%).
Điện gió trên bờ dự kiến chiếm 11% công suất toàn hệ thống vào năm 2030 và 14,3% vào năm 2045; điện gió ngoài khơi chiếm 4,8% vào năm 2030 và đến 2045 là 17% và điện mặt trời dự kiến chiếm 19,4% vào năm 2045 là bước đột phá chuyển dịch năng lượng.
3. Nhìn nhận thực tế
Rất khó đảm bảo an ninh năng lượng nếu chỉ trông chờ vào điện gió, điện mặt trời vì hai nguồn năng lượng này luôn không ổn định như nhận định của các chuyên gia năng lượng nêu tại tọa đàm “Chiến lược và hợp tác thúc đẩy chuyển đổi năng lượng Việt Nam”, ngày 22/6, tại Bộ Công Thương.
Theo thống kê của Cục Điện lực và Năng lượng Tái tạo (Bộ Công Thương): Đến cuối năm 2021 tổng công suất điện gió, điện mặt trời đạt khoảng 20.670 MW, chiếm gần 27% tổng công suất đặt toàn hệ thống.
Sản lượng điện từ các nguồn điện này đạt 31,5 tỷ kWh, tương đương gần 12,3% sản lượng điện sản xuất toàn hệ thống. Sáu tháng đầu năm 2022 con số này tăng lên khoảng 14% sản lượng điện hệ thống – theo Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia (A0).
Từ năm 2021 đến nay, nhu cầu truyền tải công suất phát của điện mặt trời và điện gió lúc cao điểm làm gia tăng hiện tượng quá tải lưới điện cục bộ và tăng nhu cầu dịch chuyển đỉnh – đáy của các loại nguồn thủy điện, điện than và khí. A0 đã có nhiều nỗ lực, sáng kiến trong điều độ nguồn – lưới, nhưng nhiều thời điểm đang buộc phải cắt giảm khá lớn nguồn điện năng lượng tái tạo, dẫn đến thiệt hại kinh tế của các nhà đầu tư và xã hội.
Lời kết
Đảm bảo an ninh năng lượng để phát triển đất nước là điều vô cùng quan trọng, có liên quan đến an ninh quốc gia. Tuy nhiên, trong tình hình chung của biến đổi khí hậu toàn cầu, chúng ta đã có những cam kết quốc tế về phát thải C02. Đây là hai bài toán song song chúng ta cần giải quyết nên cần có các chính sách linh hoạt, phù hợp.
Nhu cầu năng lượng để phát triển của Việt Nam rất lớn, nhưng chúng ta gặp thách thức khi nguồn tài nguyên sơ cấp truyền thống là: thuỷ điện cơ bản đã khai thác hết, tiềm năng thủy điện nhỏ cũng không còn nhiều dư địa để phát triển, trong khi nhiệt điện than sẽ không phát triển, xây dựng thêm sau năm 2030 nhằm đảm bảo các điều khoản trong cam kết quốc tế của chúng ta.
Nguồn: Tạp chí Năng lượng Việt Nam.
